Dingo Fence nơi có hàng rào ngăn chó dài nhất thế giới tại Úc

Theo Tiến sĩ Mike Letnic , thuộc trường Đại học Sydney, chó dingo là loài ăn thịt hàng đầu của Úc , có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng của thiên nhiên và việc tái tạo quần thể dingo hiện tại có thể giúp làm tăng đa dạng các loài sinh vật trên hơn 2 triệu km vuông của Úc .

hay Dog Fence – “Hàng rào chó” là tên của dải hàng rào trải từ vùng đất khô cằn Jimbour, ở Darling Downs, gần vùng Dalby cho đến phía tây bán đảo Eyre, tại vách đá Nullarbor Plain. Như cái tên của nó, hàng rào này được xây dựng vào đầu năm 1900 với mục đích để ngăn các đàn chó dingo và các giống cho hoang khác xâm nhập vào vùng đất phía Đông nước Úc, mảnh đất màu mỡ được các cư dân mới nhập cư trồng trọt và chăn thả gia súc. Với khoảng cách 5,614 km, có thể nói đây là hàng rào dài nhất thế giới chưa từng bị bất cứ nơi nào xô ngã kỷ lục cho đến ngày nay.

Hàng rào thực chất bắt đầu được xây dựng từ sớm hơn, vào những năm 1880 do chính quyền bang khởi xướng để tránh các dịch bệnh lây lan từ thỏ xuyên khắp các bang. Những chi tiêu tốn kém khiến ngân sách cạn kiệt khiến cho hàng rào xuống cấp trong những năm kế tiếp. Mãi cho đến năm 1900 nó mới được phục hồi với mục đích ngăn chặn đàn chó hoang tấn công các đàn cừu được chăn thả. Năm 1930, người ta ước tính có khoảng 32,000 km lưới được xây đè lên trên các hàng rào ngăn thỏ có từ trước đó chỉ tại riêng bang Queensland. Đến năm 1940, các hàng rào được nối với nhau liên tục trở thành hàng rào dài nhất thế giới. Năm 1980 nó đạt đến chiều dài 8,614km, nhưng sau đó được rút ngắn lại còn 5,614 km.


Hàng rào mang đến những hiệu quả nhất định, mặc dù một số chó hoang vẫn có thể được nhìn thấy tại miền Nam nước Úc. Hàng rào Dingo Fence xuyên qua nhiều bang khác nhau được bảo trì bởi một hội đồng với chi phí 10 triệu đô la mỗi năm. Tại một số đoạn, hàng rào được chiếu sáng ban đêm nhờ các tấm pin năng lượng mặt trời. Các đoạn hàng rào mỗi vùng không hẳn giống nhau hoàn toàn, nhưng cùng thống nhất chiều cao 180 cm lưới được đóng vào các cột gỗ cách khoảng. Có những đoạn 5 mét được làm cổng tại những vùng không tồn tại thảm thực vật, được sử dụng cho các công tác bảo trì.

Mặc dù hàng rào có tác dụng giảm bớt thiệt hại cho đàn cừu trước sự tấn công của các đàn chó hoang, tiết kiệm hàng triệu đô là mỗi năm, nhưng tác động của nó đến môi trường vẫn còn là sự tranh cãi. Nó tạo ra hai vùng sinh thái khác biệt, ở những vùng vắng bóng chó hoang Dingo, số lượng các loài như thỏ, chuột túi , chim emu gia tăng đáng kể khiến một số động vật khác như các loài gậm nhấm bản địa, các loài động vật có túi khác và cỏ bị suy giảm nghiêm trọng.

Bên cạnh đó, cũng có nhiều tranh cãi về nguồn gốc loài cho hoang này. Nhiều người cho rằng giống chó Dingo không phải là loài động vật bản địa mà là loài thú di cư từ các vùng Đông Nam Á cách đây khoảng 4000 năm. Do đó nó phải được xem là một loài động vật đã được thuần hóa trong chăn nuôi gia súc như thỏ, lạc đà, trâu và lợn hoang. Trên thực tế, các chủ đất ở các bang buộc phải thông qua pháp luật mới được phép giết các loài thú hoang như Dingo trên đất của họ.

Theo Tiến sĩ Mike Letnic , thuộc trường Đại học Sydney, chó dingo là loài ăn thịt hàng đầu của Úc , có vai trò quan trọng trong việc duy trì sự cân bằng của thiên nhiên và việc tái tạo quần thể dingo hiện tại có thể giúp làm tăng đa dạng các loài sinh vật trên hơn 2 triệu km vuông của Úc .

Related posts:

Nội Dung Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *